PHẢN ỨNG CỦA NHÀ KHUNG BÊ TÔNG CỐT THÉP CHỊU ĐỘNG ĐẤT CÓ XÉT ĐẾN THÀNH PHẦN ĐỨNG CỦA GIA TỐC NỀN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Khi động đất xảy ra, một nguồn năng lượng từ chấn tiêu được giải phóng và lan truyền tới bề mặt trái đất dưới dạng sóng địa chấn. Sóng địa chấn bao gồm sóng khối (sóng dọc P và sóng ngang S) và sóng mặt. Trong khi sóng ngang S sẽ gây ra thành phần theo phương ngang của động đất, sóng dọc P sẽ gây ra thành phần theo phương đứng của động đất. Các nghiên cứu trước đây về phản ứng của nhà khung bê tông cốt thép (BTCT) chịu động đất chủ yếu xét đến thành phần ngang của động đất, ít quan tâm đến thành phần đứng. Nghiên cứu này khảo sát phản ứng của nhà khung BTCT chịu động đất có xét đến thành phần đứng của gia tốc nền bằng phương pháp phân tích động theo lịch sử thời gian. Kết quả cho thấy thành phần đứng của động đất ảnh hưởng đến lực dọc trong các cột, gia tốc sàn các tầng theo phương đứng và lực cắt đáy theo phương đứng, làm tăng hoặc giảm khả năng chịu cắt yêu cầu của cột
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Động đất, gia tốc nền, phân tích động theo lịch sử thời gian, thành phần đứng của động đất
Tài liệu tham khảo
Ngô Văn Thuyết (2023), “Ảnh hưởng của các đặc trưng của chuyển động nền trận động đất đến phản ứng của công trình”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường, Trường Đại học Thủy lợi, 86, tr. 45-52.
Nguyễn Anh Dũng, Dương Nhật Trung (2020), “Ảnh hưởng của băng gia tốc nền lên kết quả phân tích phản ứng động của nhà nhiều tầng”, Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên, Trường Đại học Thủy lợi, tr. 147-149.
Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Vĩnh Sáng, Nguyễn Ngọc Thắng (2022), “Đánh giá khả năng chịu động đất của khung bê tông cốt thép theo phương pháp hệ số chuyển vị”, Tạp chí Khoa học Kiến trúc - Xây dựng, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, 45, tr 43-47.
Nguyễn Lê Ninh (2013), “Động đất và thiết kế công trình chịu động đất”, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội.
Nguyễn Văn Nam, Hoàng Phương Hoa, Phạm Duy Hòa (2016), “Ảnh hưởng thành phần đứng của những trận động đất mạnh đến phản ứng của kết cấu cách chấn bằng gối TFP”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, 1(98), tr. 46-49.
TCVN 9386:2012, Tiêu chuẩn thiết kế công trình chịu động đất, Hà Nội, Việt Nam.
TCVN 5574:2012, Thiết kế bê tông và bê tông cốt thép - Tiêu chuẩn thiết kế, Việt Nam.
TCVN 5574:2018, Thiết kế bê tông và bê tông cốt thép - Tiêu chuẩn thiết kế, Việt Nam.
ACI 318-19 (2019), Building Code Requirements for Structural Concrete.
Farsangi E.N., Tasnimi A.A. (2016), ”The influence of coupled horizontal-vertical ground excitations on the collapse margins of modern RC-MRFs”, International Journal of Advanced Structural Engineering, 8, 169-192.
Gremer N., Adam C., Medina R.A., Moschen L. (2019), “Vertical peak floor accelerations of elastic moment resisting steel frames”, Bulletin of Earthquake Engineering, 17, 3233-3254.
Ha V.L, Nguyen V.T., Nguyen X.D., Nguyen H. (2024), “Vertical ground motion effects on the internal forces in reinforced concrete structures”, Journal of Science and Technique - Section on Special Construction Engineering, 7(2), 121-137.
Kadid A., Yahiaoui D., Chebili (2010), “Behaviour of reinforced concrete buildings under simultaneous horizontal and vertical ground motions”, Asian journal of civil engineering (building and housing), 11(4), 463-476.
Kallioras S., Graziotti F., Penna A. (2022), “Effects of vertical ground motions on the dynamic response of URM structures: Comparative shake-table tests”, Earthquake Engineering & Structural Dynamics, 51(2), 347-368.
Shrestha B. (2009), “Vertical ground motions and its effect on engineering structure: A state-of-the-art review”, International seminar on Hazard management for sustainable development, Kathmandu, Nepal, November 29 30, 190-202
Nguyễn Anh Dũng, Dương Nhật Trung (2020), “Ảnh hưởng của băng gia tốc nền lên kết quả phân tích phản ứng động của nhà nhiều tầng”, Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên, Trường Đại học Thủy lợi, tr. 147-149.
Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Vĩnh Sáng, Nguyễn Ngọc Thắng (2022), “Đánh giá khả năng chịu động đất của khung bê tông cốt thép theo phương pháp hệ số chuyển vị”, Tạp chí Khoa học Kiến trúc - Xây dựng, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, 45, tr 43-47.
Nguyễn Lê Ninh (2013), “Động đất và thiết kế công trình chịu động đất”, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội.
Nguyễn Văn Nam, Hoàng Phương Hoa, Phạm Duy Hòa (2016), “Ảnh hưởng thành phần đứng của những trận động đất mạnh đến phản ứng của kết cấu cách chấn bằng gối TFP”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, 1(98), tr. 46-49.
TCVN 9386:2012, Tiêu chuẩn thiết kế công trình chịu động đất, Hà Nội, Việt Nam.
TCVN 5574:2012, Thiết kế bê tông và bê tông cốt thép - Tiêu chuẩn thiết kế, Việt Nam.
TCVN 5574:2018, Thiết kế bê tông và bê tông cốt thép - Tiêu chuẩn thiết kế, Việt Nam.
ACI 318-19 (2019), Building Code Requirements for Structural Concrete.
Farsangi E.N., Tasnimi A.A. (2016), ”The influence of coupled horizontal-vertical ground excitations on the collapse margins of modern RC-MRFs”, International Journal of Advanced Structural Engineering, 8, 169-192.
Gremer N., Adam C., Medina R.A., Moschen L. (2019), “Vertical peak floor accelerations of elastic moment resisting steel frames”, Bulletin of Earthquake Engineering, 17, 3233-3254.
Ha V.L, Nguyen V.T., Nguyen X.D., Nguyen H. (2024), “Vertical ground motion effects on the internal forces in reinforced concrete structures”, Journal of Science and Technique - Section on Special Construction Engineering, 7(2), 121-137.
Kadid A., Yahiaoui D., Chebili (2010), “Behaviour of reinforced concrete buildings under simultaneous horizontal and vertical ground motions”, Asian journal of civil engineering (building and housing), 11(4), 463-476.
Kallioras S., Graziotti F., Penna A. (2022), “Effects of vertical ground motions on the dynamic response of URM structures: Comparative shake-table tests”, Earthquake Engineering & Structural Dynamics, 51(2), 347-368.
Shrestha B. (2009), “Vertical ground motions and its effect on engineering structure: A state-of-the-art review”, International seminar on Hazard management for sustainable development, Kathmandu, Nepal, November 29 30, 190-202